Hen suyễn (hay còn gọi là hen phế quản) là một trong những bệnh mạn tính phổ biến của đường hô hấp, có thể gặp ở trẻ em và người trưởng thành. Bệnh đặc trưng bởi tình trạng viêm mạn tính niêm mạc phế quản, khiến đường thở tăng phản ứng với nhiều yếu tố kích thích, gây co thắt phế quản và xuất hiện các cơn khó thở tái diễn. Đáng lưu ý, nếu không được phát hiện và kiểm soát kịp thời, hen suyễn có thể dẫn đến những biến chứng nặng, thậm chí đe dọa tính mạng.

Nhiều yếu tố khởi phát cơn hen
Theo các chuyên gia y tế, hen suyễn là bệnh lý đa yếu tố, trong đó dị ứng là nguyên nhân thường gặp nhất. Các dị nguyên đường hô hấp như bụi nhà, phấn hoa, nấm mốc, lông động vật, khói thuốc lá, khói bụi công nghiệp; hay các dị nguyên thực phẩm như hải sản, trứng, thịt gà, lạc…đều có thể làm khởi phát cơn hen ở người có cơ địa dị ứng. Một số loại thuốc như aspirin, penicillin cũng được ghi nhận là yếu tố nguy cơ.
Bên cạnh đó, các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp trên như viêm mũi, viêm xoang, viêm họng, viêm amidan có thể làm nặng thêm tình trạng viêm đường thở, từ đó gây bùng phát cơn hen. Các yếu tố không dị ứng như di truyền, căng thẳng tâm lý, lo âu kéo dài cũng đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh.
Những người có tiền sử bản thân hoặc gia đình mắc các bệnh dị ứng, hen phế quản cần đặc biệt lưu ý, bởi đây là nhóm nguy cơ cao dễ xuất hiện cơn hen cấp khi tiếp xúc với các tác nhân kích thích.
Dấu hiệu điển hình cần lưu ý
Bác sĩ chuyên khoa I Trần Thị Thu Nga, Phó trưởng Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Phổi Quảng Ninh cho biết, triệu chứng điển hình của hen suyễn là khó thở kèm theo khò khè, thở rít, đặc biệt rõ khi thở ra. Các cơn khó thở thường xuất hiện về đêm, theo mùa hoặc sau khi tiếp xúc với các yếu tố kích thích như thời tiết thay đổi, khói bụi, cảm cúm, gắng sức.
“Người bệnh có thể có tiền sử ho kéo dài, khạc đờm, cảm giác nặng ngực. Khi khám trong cơn hen, bác sĩ thường nghe thấy ran rít, ran ngáy lan tỏa hai phổi. Việc chẩn đoán cần phân biệt với một số bệnh lý khác có biểu hiện tương tự như bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, giãn phế quản hay viêm phế quản co thắt”, bác sĩ Trần Thị Thu Nga cho biết.

Phân loại mức độ hen – cơ sở lựa chọn phác đồ điều trị
Về phân loại hen suyễn, mức độ của bệnh qua các triệu chứng được phân loại như sau:
– Cơn hen nhẹ từng cơn. Các triệu chứng nhẹ dưới hai lần một tuần. Các triệu chứng ban đêm ít hơn hai lần một tháng. Ít lên cơn hen.
– Hen suyễn dai dẳng nhẹ. Các triệu chứng từ ba đến sáu lần một tuần. Các triệu chứng ban đêm ba đến bốn lần một tháng. Các cơn hen suyễn có thể ảnh hưởng đến các hoạt động.
– Cơn hen dai dẳng vừa phải. Các triệu chứng từ ba đến sáu lần một tuần. Các triệu chứng ban đêm ba đến bốn lần một tháng. Các cơn hen suyễn có thể ảnh hưởng đến các hoạt động.
– Cơn hen dai dẳng nặng. Các triệu chứng liên tục xảy ra cả ngày và đêm. Người bệnh phải hạn chế các hoạt động của mình.
Chẩn đoán bệnh hen suyễn có thể dựa vào các xét nghiệm để xem phổi của người bệnh hoạt động như thế nào, bao gồm:
– Phép đo xoắn ốc: Bài kiểm tra thở đơn giản này đo lượng khí thổi ra và tốc độ ra sao.

Đường dẫn khí của người bình thường và người bị hen
– Lưu lượng đỉnh: Máy đo lưu lượng đỉnh có thể giúp tìm ra nguyên nhân khiến bệnh hen suyễn của người bệnh trở nên tồi tệ hơn, liệu phương pháp điều trị của người bệnh có hiệu quả hay không và khi nào cần chăm sóc cấp cứu.
– Thử nghiệm oxit nitric thở ra: Người bệnh thở vào một ống nối với một máy đo lượng nitric oxide trong hơi thở của họ. Cơ thể tạo ra khí này một cách bình thường, nhưng mức độ có thể cao nếu đường thở của họ bị viêm.
Bên cạnh đó, người bệnh có thể được làm các kiểm tra khác bao gồm:
– Chụp X-Quang phổi: Đây không phải là một xét nghiệm hen suyễn, nhưng bác sĩ có thể sử dụng nó để đảm bảo không có gì khác gây ra các triệu chứng của người bệnh. Chụp X-quang là hình ảnh bên trong cơ thể, được thực hiện với liều lượng bức xạ thấp.
– CT Scanner lồng ngực: Kỹ thuật này dùng để xem bên trong phổi của người bệnh. Chụp phổi và xoang có thể xác định các vấn đề về thể chất hoặc các bệnh (như nhiễm trùng) có thể gây ra các vấn đề về hô hấp hoặc làm cho chúng trở nên tồi tệ hơn.
– Thử nghiệm dị ứng: Đây có thể là xét nghiệm máu hoặc da, cho biết có bị dị ứng với vật nuôi, bụi, nấm mốc và phấn hoa hay không. Sau khi biết các tác nhân gây dị ứng, người bệnh có thể điều trị để ngăn ngừa chúng và các cơn hen suyễn.
– Bạch cầu ái toan trong đờm: Xét nghiệm này tìm kiếm mức độ cao của các tế bào bạch cầu (bạch cầu ái toan) trong hỗn hợp nước bọt và chất nhầy (đờm) thoát ra khi người bệnh ho.
Điều trị hen suyễn cần tuân thủ lâu dài
Theo Bác sĩ chuyên khoa I Trần Thị Thu Nga: Điều trị hen suyễn là chu trình liên tục bao gồm đánh giá bệnh nhân, điều chỉnh trị liệu và đánh giá đáp ứng.
– Đánh giá bệnh nhân: không chỉ bao gồm đánh giá triệu chứng mà còn bao gồm đánh giấ yếu tố nguy cơ và bệnh đồng mắc của mỗi bệnh nhân, có thể góp phần làm gia tăng gánh nặng bệnh tật, sức khỏe và dự báo mức độ kém đáp ứng điều trị. Nên lưu tâm tới mục tiêu điều trị của mỗi bệnh nhân.
– Điều trị: Nhằm ngăn ngừa đợt cấp và kiểm soát triệu chứng. Điều trị bao gồm:
Điều trị bằng thuốc: GINA hiện khuyến cáo tất cả người lớn, trẻ lớn có hen phế quản nên điều trị bằng thuốc kiểm soát hen có ICS – giúp giảm các đợt cấp nặng, thậm chí với cả những bệnh nhân có triệu chứng không thường xuyên. Tất cả các bệnh nhân phải có thuốc cắt cơn mang theo bên mình trong mọi lúc, mọi nơi.
Thuốc điều trị hen hài hạn được chia là 3 loại chính:
Thuốc kiểm soát hen: là thuốc dùng duy trì để điều trị bệnh hen giúp làm giảm nguy cơ đợt cấp và sụt giảm chức năng hô hấp nhờ tác dụng giảm tình trạng viêm đường thở.
Thuốc cắt cơn hen: là thuốc chỉ dùng để cắt cơn hen và giảm triệu chứng khi bệnh nhân có cơn khó thở hoặc đợt cấp hen. Giảm nhu cầu hoặc không cần dùng thuốc cắt cơn hen là mục tiêu quan trọng của điều trị hen.
Thuốc điều trị phối hợp đối với hen nặng: Đây là các thuốc được xem xét bệnh nhân có triệu chứng ho dai dẳng hoặc vẫn còn đợt cấp dù đã tối ưu hóa điều trị liều cao ICS/LABA và đã phòng tránh các yếu tố nguy cơ.
– Đánh giá đáp ứng: nên được thực hiện bất cứ khi nào cần xem xét thay đổi điều trị. Các đánh giá bao gồm: đánh giá kiểm soát triệu chứng, đợt cấp, tác dụng phụ của thuốc, chức năng phổi và sự hài lòng của người bệnh.
Bệnh hen suyễn nếu không được điều trị kịp thời, người bệnh sẽ mắc các biến chứng nặng, nguy hiểm tính mạng như: Khí phế thũng, tâm phế mạn tính: thường gặp ở người bệnh hen mãn tính, nặng. Biến dạng lồng ngực hay mắc suy hô hấp mạn tính. Xẹp phổi: thường xảy ra ở trẻ em (chiếm tỷ lệ 30%). Tràn khí màng phổi: xuất hiện ở 5% bệnh nhân hen suyễn nên dễ chẩn đoán nhầm, tràn khí màng phổi hai bên khiến người bệnh gặp nguy cơ gây tử vong cao. Biến chứng của điều trị: dùng nhiều corticoid kéo dài có thể gặp hội chứng giả cushing.
Chủ động phòng ngừa để tránh biến chứng
Để bệnh không tiến triển gây biến chứng nguy hiểm, người bệnh cần thực hiện:
– Cai thuốc lá: khuyến khích người bệnh ngừng hút thuốc và tránh phơi nhiễm thụ động với khói thuốc lá.
– Tập luyện thể lực: khuyến khích người bệnh hen tích cực vận động nhằm cải thiện sức khỏe chung. Xử trí co thắt phế quản do gắng sức theo hướng dẫn của bác sĩ.
– Tránh các loại thuốc có thể khiến bệnh hen nặng lên: thuốc kháng viêm không steroid hoặc thuốc chẹn beta. Nếu mắc hội chứng mạch vành cấp, người bệnh cần cân nhắc dùng thuốc chẹn beta chọn lọc cho tim mạch nếu lợi nhiều hơn hại.
– Chế độ ăn phù hợp: khuyến khích bệnh nhân ăn nhiều rau và trái cây tươi, không dùng thực phẩm có nguy cơ gây dị ứng.
– Phòng ô nhiễm không khí trong nhà: nên loại bỏ việc đun nấu gây ô nhiễm không khí trong nhà hoặc thêm ống thông khí ra ngoài khi sử dụng.
– Tránh hít phải không khí ô nhiễm bên ngoài: tránh hoạt động thể lực cường độ cao ở nơi có tình trạng ô nhiễm nặng, thời tiết quá lạnh hoặc độ ẩm thấp; hạn chế đến nơi đông người trong những đợt bùng phát virus gây bệnh đường hô hấp.
– Đối phó với cảm xúc: việc cười to, khóc, giận dữ hoặc sợ hãi không kiểm soát có thể là nguyên nhân hen suyễn khởi phát triệu chứng bệnh nếu người bệnh không dùng thuốc kiểm soát hen. Trong trường hợp đó, khuyến khích bệnh nhân đối phó với cảm xúc như tập thư giãn hoặc hít thở phù hợp.
– Tránh các yếu tố khởi phát cơn hen theo bác sĩ điều trị hướng dẫn.
– Tiêm vắc xin phòng cúm mỗi năm một lần và tiêm vacxin phòng phế cầu 5 năm một lần nhằm giảm các cơn hen cấp tính. Ngoài ra, tiêm vắc xin COVID-19 có vai trò quan trọng giúp hạn chế nguyên nhân hen suyễn ở người bị hen, giảm nguy cơ mắc và giảm nguy cơ nặng, tử vong nếu nhiễm COVID-19.
Hen suyễn là bệnh mạn tính nhưng hoàn toàn có thể kiểm soát hiệu quả nếu người bệnh được chẩn đoán sớm, điều trị đúng và tuân thủ các biện pháp phòng ngừa. Việc nâng cao nhận thức cộng đồng chính là yếu tố then chốt giúp giảm gánh nặng bệnh tật và bảo vệ sức khỏe hô hấp cho người dân.
Ngọc Phượng, Mạnh Hùng – CDC QN





