Đơn vị chủ quản: Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Quảng Ninh

Đơn vị chủ quản: Sở Y tế tỉnh Quảng Ninh

Một cân giò – 3 ngành cùng quản lý

Facebook
Skype
Email
Print

Sau hơn 15 năm thực hiện Luật An toàn thực phẩm năm 2010, những bất cập về phân công trách nhiệm, phương thức quản lý và kiểm soát nguy cơ đang đặt ra yêu cầu sửa đổi toàn diện. Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), được đưa ra cho ý kiến tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, hướng tới thống nhất đầu mối quản lý, tăng cường hậu kiểm và xác định rõ trách nhiệm trong toàn bộ chuỗi cung ứng thực phẩm.

An toàn thực phẩm liên quan trực tiếp đến sức khỏe, đời sống nhân dân, sự phát triển của giống nòi và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy nhiên, mô hình quản lý phân tán, cắt khúc giữa nhiều bộ, ngành đã bộc lộ những điểm nghẽn mang tính hệ thống. Có thể hình dung sự phân tán trong quản lý qua một sản phẩm quen thuộc là giò: ở khâu sản xuất, sản phẩm thuộc phạm vi quản lý của ngành Nông nghiệp; khi được đưa ra thị trường, trách nhiệm quản lý thuộc ngành Công thương; đến khi người dân sử dụng và xảy ra sự cố ảnh hưởng đến sức khỏe, ngành Y tế lại vào cuộc. Tình trạng “một mâm cơm, ba bộ cùng quản” khiến trách nhiệm bị chia nhỏ, khó xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm khi xảy ra sự cố.

Cùng với đó, phương thức quản lý nặng về tiền kiểm và thủ tục hành chính làm phát sinh chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp nhưng hiệu quả chưa tương xứng. Các mô hình kinh doanh trên không gian số, thương mại điện tử và chuỗi cung ứng thực phẩm đặt ra những vấn đề mà quy định hiện hành chưa bao quát đầy đủ. Cơ chế phân tích nguy cơ, dữ liệu phục vụ truy xuất nguồn gốc cũng còn thiếu.

Đoàn kiểm tra liên ngành Y tế – Nông nghiệp – Công thương do UBND Thành phố Quảng Ninh thành lập kiểm tra công tác ATTP tại cơ sở cung cấp suất ăn tập thể.

Theo thông tin từ Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, việc sửa đổi luật cần giải quyết đồng thời yêu cầu bảo vệ sức khỏe nhân dân và tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển. Quản lý nhà nước không đồng nghĩa với gia tăng giấy phép, mà phải dựa trên chuẩn an toàn rõ ràng, dữ liệu đầy đủ, hậu kiểm hiệu quả và trách nhiệm cụ thể.

Một trong những nội dung trọng tâm được cơ quan thẩm tra quan tâm là định hình mô hình cơ quan đầu mối, thống nhất Bộ Y tế là cơ quan chịu trách nhiệm chính giúp Chính phủ quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm. Đi cùng với đó là phân định rõ trách nhiệm giữa các bộ, giữa Trung ương và địa phương, khắc phục tình trạng chồng chéo, phân tán trong quản lý.

Thay đổi quan trọng khác của dự thảo là chuyển từ quản lý các loại thực phẩm bằng hệ thống thủ tục tương đối đồng đều sang phân loại theo mức độ nguy cơ và áp dụng biện pháp tương ứng. Theo hướng này, tiền kiểm được thực hiện có trọng tâm đối với nhóm sản phẩm nguy cơ cao; phần lớn sản phẩm còn lại áp dụng cơ chế tự công bố, doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm và chịu hậu kiểm.

Tần suất kiểm tra cũng được xác định dựa trên nguy cơ thực tế, đặc điểm sản phẩm và lịch sử tuân thủ. Theo nội dung dự thảo được giới thiệu, cơ sở thông thường được kiểm tra không quá một lần mỗi năm; cơ sở hoặc sản phẩm nguy cơ cao, có lịch sử vi phạm sẽ được tăng tần suất kiểm tra.

Để việc chuyển đổi phương thức quản lý đạt hiệu quả, hậu kiểm phải đi vào thực chất. Hoạt động này cần bao gồm kiểm tra trực tiếp tại cơ sở, lấy mẫu sản phẩm trên thị trường, xem xét lịch sử tuân thủ và khả năng truy xuất nguồn gốc, thay vì chỉ kiểm tra hồ sơ. Cơ quan thẩm tra lưu ý cần tránh biến hậu kiểm thành một hình thức “tiền kiểm mới”, làm phát sinh thêm thủ tục.

Sở Y tế thành phố Quảng Ninh kiểm tra một cơ sở cung cấp thực phẩm trên địa bàn phường Quảng Yên.

Đối với thực phẩm nguy cơ cao, yêu cầu truy xuất nguồn gốc bắt buộc được đặt ra nhằm tăng khả năng kiểm soát từ sớm. Mỗi cá nhân, đơn vị tham gia chuỗi cung ứng từ trang trại đến bàn ăn phải chịu trách nhiệm đối với khâu do mình thực hiện.

Song song với tăng cường kiểm soát, dự thảo hướng tới cắt giảm thủ tục hành chính và chi phí tuân thủ. Chỉ một số nhóm thực phẩm nguy cơ cao phải đăng ký công bố tại Bộ Y tế; phần lớn nhóm còn lại do doanh nghiệp tự công bố và tự chịu trách nhiệm. Những thông tin đã được cập nhật trên hệ thống dữ liệu số không phải cung cấp lại. Thay đổi nhỏ về kỹ thuật được cập nhật trên hệ thống, chỉ phải đăng ký lại khi thay đổi liên quan đến bản chất, tính an toàn hoặc công dụng của sản phẩm.

Sở Y tế Quảng Ninh thực hiện công tác kiểm tra, hậu kiểm đối với các sản phẩm thực phẩm bao gói sẵn để kịp thời phát hiện và xử lý các mối nguy không bảo đảm an toàn.

Biện pháp xử lý sản phẩm cũng được phân tầng. Sản phẩm sai lệch chỉ tiêu an toàn phải thu hồi; trường hợp sai lệch chỉ tiêu chất lượng thương mại thì buộc khắc phục, tránh lãng phí không cần thiết. Đồng thời, cơ quan thẩm tra đề nghị làm rõ trách nhiệm bồi thường của cơ quan nhà nước nếu việc tạm dừng bán hoặc quảng cáo gây thiệt hại nhưng kết quả kiểm tra xác định sản phẩm không vi phạm.

Trước sự phát triển của kinh doanh thực phẩm trên môi trường số, dự thảo làm rõ trách nhiệm liên đới của chủ sàn thương mại điện tử và cơ sở đăng ký bản công bố sản phẩm khi xảy ra sự cố. Các quy định về tem niêm phong an toàn, giới hạn thời gian giao hàng đối với dịch vụ giao đồ ăn trực tuyến cũng được bổ sung.

Hạ tầng dữ liệu số được xác định là công cụ phục vụ quản lý chủ động. Dự thảo đặt ra việc xây dựng cơ sở dữ liệu an toàn thực phẩm quốc gia, kết nối từ Trung ương đến địa phương, tích hợp kết quả kiểm nghiệm, lịch sử vi phạm và các cảnh báo trong nước, quốc tế. Việc ứng dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo hướng tới hỗ trợ cảnh báo sớm, truy xuất nguồn gốc và phân bổ nguồn lực hậu kiểm theo nguy cơ thực tế.

Ở cơ sở, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong quản lý thức ăn đường phố, bếp ăn tập thể được tăng cường, gắn với việc lập danh sách, kiểm tra, tiếp nhận phản ánh và cập nhật dữ liệu vi phạm lên hệ thống quốc gia.

Mô hình quản lý phân tán, cắt khúc giữa nhiều bộ, ngành đã bộc lộ những điểm nghẽn mang tính hệ thống. Tình trạng “một mâm cơm, ba bộ cùng quản” khiến trách nhiệm bị chia nhỏ, khó xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm khi xảy ra sự cố.

Cùng với cơ chế phòng ngừa, các chế tài mạnh hơn được đề xuất nhằm tăng sức răn đe. Trong đó, mức phạt hành chính tối đa được đề xuất là 1,5 tỷ đồng đối với cá nhân và 3 tỷ đồng đối với tổ chức. Các biện pháp rút giấy phép hành nghề có thời hạn hoặc vĩnh viễn đối với hành vi cố tình vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, ngộ độc trên diện rộng cũng được đặt ra, kết hợp với thu hồi giấy đăng ký, gỡ hồ sơ công bố và thu hồi sản phẩm không an toàn.

Tuy nhiên, tính khả thi vẫn là yêu cầu đặc biệt quan trọng trong quá trình hoàn thiện dự thảo. Theo cơ quan thẩm tra, đội ngũ cán bộ còn thiếu; năng lực thực thi tại địa phương chưa được đánh giá kỹ; trang thiết bị, hệ thống thử nghiệm phục vụ hậu kiểm và cơ sở dữ liệu chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu. Nếu thiếu sự chuẩn bị về con người, máy móc và thời gian hướng dẫn thực hiện, các chính sách mới có thể gây ách tắc tại một số khâu.

Vì vậy, cần đánh giá kỹ nguồn lực cho hậu kiểm, cơ sở dữ liệu số và bộ máy thực thi ở địa phương, đặc biệt là cấp xã. Thời điểm có hiệu lực và quy định chuyển tiếp phải tạo đủ thời gian để doanh nghiệp chuẩn bị; các nghị định hướng dẫn cần được hoàn thiện đồng bộ để tránh khoảng trống pháp lý.

Quá trình rà soát cũng cần bảo đảm mức độ luật hóa hợp lý, hạn chế phụ thuộc quá nhiều vào văn bản quy định chi tiết; xem xét đầy đủ căn cứ khoa học, chi phí tuân thủ và lợi ích sức khỏe khi bổ sung chính sách về vi chất dinh dưỡng, phân loại nguy cơ. Yêu cầu minh bạch, kiểm soát quyền lực trong thanh tra, xử lý vi phạm và tính thống nhất với hệ thống pháp luật, cam kết quốc tế cần được bảo đảm.

Việc chấm dứt tình trạng “một mâm cơm, ba bộ cùng quản” vì thế gắn liền với đổi mới phương thức quản lý và xác định trách nhiệm đến cùng. Các quy định sửa đổi cần đủ mạnh để bảo vệ người dân, đồng thời khả thi trong thực hiện và không tạo thêm gánh nặng thủ tục cho doanh nghiệp tuân thủ tốt.

Tuấn Anh – CDC Quảng Ninh

cùng chuyên mục

bản tin y tế

Các mẹ cần biết

Bác sỹ gia đình

liên kết website

liên kết facebook

thống kê truy cập